BỆNH DO NẤM

Bệnh phỏng lá hại lúa (Microdochium oryzae.)

Bệnh phỏng lá hại lúa được gây ra do nấm Microdochium oryzae.

Bệnh có tên tiếng Anh là leaf scald. 


Lịch sử và phân bố

Bệnh được Hashioka và Ikegami mô tả lần đầu vào năm 1955, nhưng người ta tin là bệnh khô chóp lá được Thumen mô tả ở miền đông Trung Quốc vào năm 1909 và bệnh cháy chóp lá được Miyake mô tả năm 1909 tại Nhật cũng chính là bệnh phỏng lá này.

Bệnh rất phổ biến ở châu Mỹ Latinh; ngoài Trung Quốc và Nhật, bệnh cũng khá phổ biến ở các quốc gia châu Á khác. Bệnh cũng có ở Mỹ và tây châu Phi.

Tại đồng bằng sông Cửu Long, bệnh thường không quan trọng lắm; tuy nhiên, trong những năm gần đây, có năm bệnh rất phổ biến và gây thất thu năng suất đáng quan tâm. Bệnh có thể gây hại ở vụ hè thu hay đông xuân có nhiều sương mù.

Triệu chứng bệnh

Bệnh có thể biểu lộ nhiều dạng triệu chứng khác nhau. Triệu chứng điển hình là vết bệnh có vòng gần như đồng tâm, thường phát triển từ chóp lá lan xuống hay từ bìa lá lan vào. Vết bệnh thường xuất hiện trên lá gìa, có thể lan từ chóp lá xuống làm cháy nâu chóp lá hay từ bìa lá lan vào tạo vết cháy có hình bầu dục, vết bệnh có thể dài từ 1-5 cm, bên trong vết bệnh gồm các vòng nâu sậm, hơi gợn sống, xếp gần như đồng tâm; xen giữa các vòng nâu sậm là các vùng nâu nhạt hơn. Bìa vết bệnh có quầng nâu nhạt. Ở các vết bệnh cũ, các vòng nâu sậm và nhạt mờ dần, vùng bệnh trở thành vùng cháy nâu xám hay bạc trắng nhưng viền vẫn có màu nâu.

Trong mùa mưa khi ẩm độ không khí cao, có thể thấy tơ nấm trắng và bào tử nấm phát triển dày đặc trên vết bệnh. Nhiều đốm trên lá làm lá vàng úa (nếu ẩm độ không khí cao) hay phiến lá bị khô cháy.

Ở Triều Tiên, ngoài triệu chứng đặc trưng nêu trên, trên lá còn có dạng vết bệnh là các đốm nhỏ màu nâu đỏ và trên bẹ có các đốm hoại dài hay hình ellipse hoặc chữ nhật; các đốm này phát triển và có màu nâu tím nhạt. Trên cổ gíe cũng có vết tương tự. Bệnh cũng có thể nhiễm ở hạt.

Ở Costa Rica, bệnh làm thối nâu đỏ lá mầm và thối rễ, làm cháy gié, làm bông bị biến dạng, bất thụ và võ hạt bị đổi màu.

 Triệu chứng bệnh phỏng lá trên lúa.

Hình dạng và kích thước
Sinh sản vô tính bằng đính bào tử ở các khí khổng trên vết bệnh. Bào tử có hình uốn cong hay hình lưỡi liềm, đơn bào khi còn non, khi già tạo thành bào tử có 2 tế bào, cũng có khi có 2-3 vách ngăn, nhưng bào tử không thắt lại nơi vách ngăn, không màu khi quan sát ở kính hiển vi, nhưng có màu hồng nếu bào tử tập trung thành khối. Kích thước 9-14 x 3-4,5 μm, đa số 10-12 x 3,5-4 μm.

Ở giai đoạn sinh sản hữu tính, trước kia nấm được gọi là Rhynchosporium oryzae nhưng sau đó đã được Gams và Muller (1980) đổi thành Garlachia oryzae vì nấm chỉ có bào tử là giống với Rhynchosporium, ngoài ra không có đặc điểm nào phù hợp với các loài của Rhynchosporium.

Sinh sản hữu tính bằng nang. Quả nang bầu chìm trong mô lá, hình cầu hay hơi dẹc chiều cao, màu nâu sậm, có miệng; 50-180 x 40-170 μm, đa số 100-140 x 80-12 μm. Nang có hình trụ hay hình cây côn, hơi cong. Chứa 8 nang bào tử, 40-65 x 10-14 μm. Nang bào tử không màu, có hình ellipse hay hình thoi 2 đầu bầu, có 3 vách ngăn, đôi khi cũng có 4 vách ngăn, 10-25 x 3-6 μm. Thể đệm dài, mõng manh, không màu.

Giai đoạn sinh sản hữu tính của nấm trước kia gọi là Metasphaeria albescens, mới đây được Parkinson et al (1981) đổi thành Monographella albescens vì nang của nấm gây bệnh là vách đơn, không phải vách đôi như ở Metasphaeria.

Tùy theo điều kiện môi trường mà giai đoạn sinh sản bằng nang có hay không. Nếu mô bệnh khô nhanh thì nang không thành lập được hay thành lập được nhưng không phát triển được.

Đặc điểm nuôi cấy

Phát triển được ở 20-27°C. Khi già, khuẩn ty có màu kem nhạt và tạo các khối bào tử có màu hơi hồng. Phát triển tốt trên môi trường khoai tây hay môi trường có thêm vitamin B1.

Chu trình bệnh

Nấm lưu tồn trên hạt hay xác lá lúa bệnh khô. Cỏ lồng vực (Echinochloa crus-galli) cũng là ký chủ phụ của mầm bệnh.

Bào tử lây lan theo gió, khi rơi trên lá lúa sẽ nẩy mầm, ống mầm sẽ nối kết với một bào tử khác, từ cặp bào tử liên kết này sẽ tạo ra một khuẩn ty cường tính. Khi tiếp xúc với khí khổng ở lá, khuẩn ty này sẽ hình thành một cấu trúc giống như đĩa bám với kích thước thay đổi.

Vòi xâm nhiễm sẽ phát triển từ cấu trúc dạng đĩa bám này và xâm nhập vào khí khổng, sau đó phát triển to ra ở bên dưới khí khổng. Các khuẩn ty này sẽ lan vào các khoảng trống gian bào và ăn vào các tế bào nhu mô, ít khi khuẩn ty phát triển trong mô mạch hay ở biểu bì.

Khoảng 3 ngày sau khi xâm nhiễn, các đài có nhánh ngắn sẽ phát triển ở khí khổng và sinh đính bào tử.

Biện pháp phòng trị bệnh
Giống kháng: Giống kháng và kháng mạnh với bệnh này đã được tìm thấy.
Không bón quá nhiều phân đạm
Đốt rơm lúa bệnh để diệt nguồn lưu tồn.
Phun các thuốc gốc đồng như hỗn hợp Bordeaux, Copper Zinc, Copper B, hoặc Hinosan 40 EC.

Tổng hợp về cây lúa, phân bón cho lúa: http://tiennong.vn/b4/quy-trinh-dinh-duong-cho-cay-lua.aspx 

TIN KHÁC

HỖ TRỢ
TRỰC TUYẾN
hỗ trợ

Tiến Nông

Skype: Tiến Nông

BP. CSKH: 02373.789.789

BP. Marketing: 02373.555.678

P. Cung ứng VTTB: 02373.961.279

P. Hành Chính: 02373.729.729

P. Kế toán: 02373.963.369

Máy Nông nghiệp: 02373.936.999

TT. NCPT KHCN: 02373.936.666

FACEBOOK
PAGE
TE 2018 LEFT
TET 2018 RIGHT