CÂY LƯƠNG THỰC

Cây khoai tây

1. Giới thiệu chung về cây khoai tây
Khoai tây (danh pháp hai phần: Solanum tuberosum), thuộc họ Cà (Solanaceae), trồng lấy củ chứa tinh bột. Chúng là loại cây trồng lấy củ rộng rãi nhất thế giới và là loại cây trồng phổ biến thứ tư về mặt sản lượng tươi - xếp sau lúa, lúa mì và ngô. Lưu trữ khoai tây dài ngày đòi hỏi bảo quản trong điều kiện lạnh.
Cây thân thảo, cao 45 - 50 cm, lá kép mọc cách, hình lông chim lẻ. Hoa trắng hay tím, mọc thành xim hai ngả. Quả mọng màu lục, trong, nhiều hạt.
Củ do những cành địa sinh (tia thân ngầm) phình lên, ở đầu mỗi củ có nhiều mắt ngủ, nảy thành mầm cây. Cây nguyên sản ở Chilê (Nam Mĩ), được đưa vào Châu Âu thế kỉ 17. Là cây lương thực quan trọng của các nước ôn đới và cận nhiệt đới. Được nhập vào Việt Nam cuối thế kỉ 19. Thời kì kết củ, nhiệt độ thích hợp là 17oC. Ưa đất nhẹ và ẩm mát thường xuyên trong suốt thời gian sinh trưởng (giống sớm từ 70 - 80 ngày, muộn từ 8 đến 9 tháng). Năng suất củ 10 - 20 tấn/ha với giống sớm, 40 - 50 tấn/ha với giống muộn. Có thể trồng bằng củ, hoặc bằng hạt. Vỏ củ có chất solanin độc; củ phát triển ở mặt đất, phơi ra ngoài không khí thì lượng solanin tăng và chất diệp lục xuất hiện lớp vỏ củ xanh, ăn độc.
Ở Việt Nam, có kinh nghiệm trồng KT trên đất ướt: đến thời vụ trồng KT, do mưa muộn, đất còn ướt thì vẫn cày ruộng, lên luống cao bằng các xá cày và trồng khoai bằng cụm trên luống, ở mỗi cụm rắc một ít trấu rồi một lớp đất bột trộn với phân chuồng, đặt củ khoai giống, phủ đất bột và tro lên trên. Sau có nắng hanh, luống khô dần, KT đã mọc, tiếp tục chăm sóc xới đất, làm cỏ, bón phân thúc ruộng khoai như thường.

2. Phương pháp chọn giống khoai tây
- Các giống được trồng phổ biến hiện nay gồm 07, PO3 và Atlantic. Tuy nhiên giống Atlantic rất mẫn cảm đối với bệnh mốc sương vì vậy trong quá trình trồng và chăm sóc cần hết sức chú ý đến việc phòng trừ bệnh này.
- Cần chọn củ giống đồng đều, đường kính 30 – 40mm, mầm dài 1,5 – 2cm, không bị sứt mẻ, dị dạng, không có các biểu hiện nhiễm rệp, sâu bệnh.

Một giống khoai tây

3. Thời vụ và mật độ khoảng cách trồng khoai tây
+ Thời vụ: Vụ sớm trồng từ 20 đến 25-9; chính vụ trồng từ 10 đến 15-10; vụ muộn từ 10 đến 20-11.
+ Mật độ và khoảng cách: Nên trồng khoai tây từ 5-6 khóm/m2 tương đương 1.300-1.500 củ giống/sào. Luống trồng hàng đôi nên bố trí khoảng cách trồng là: 40 x 30 cm, trồng xong phải lấp củ với độ sâu 3-5 cm.
4. Kỹ thuật bón phân và chăm sóc khoai tây
+ Bón phân: Một sào cần 500-700 kg phân chuồng, 10-12 kg đạm urê, 15-20 kg lân,  9-10 kg kali với cách bón như sau:
- Bón lót toàn bộ phân chuồng + toàn bộ phân lân + 1/3 đạm và 1/3 kali.
- Bón thúc lần 1: 1/3 đạm và 1/3 kali kết hợp vun xới lần 1.
- Bón thúc lần 2: hết số đạm và số kali còn lại kết hợp vun xới lần 2.
+ Chăm sóc: Khi trồng tuyệt đối không cho củ giống tiếp xúc với phân hoá học. Đất phải được giữ ẩm thường xuyên để giúp cho quá trình sinh trưởng và phát triển thân, lá, củ được thuận lợi. Giai đoạn trước khi thu hoạch 15-20 ngày tuyệt đối không được tưới nước nhằm tránh ảnh hưởng đến chất lượng củ khoai tây. Phòng, trừ sâu bệnh: phun thuốc khi phát hiện rệp, nhện bằng thuốc Confidor, Pegaus, Shepar nồng độ 0,1-0,2%... hoặc trừ bệnh mốc sương bằng thuốc Rhidomil, Zinep 20-25 gr/bình. Phun đều hai mặt của lá.
5. Thời điểm thu hoạch khoai tây
Thu hoạch khi củ đạt độ chín sinh lý, biểu hiện là thân lá đã chuyển sang màu vàng tự nhiên, củ nhẵn bóng và rắn chắc, nên thu hoạch vào những ngày nắng ráo, loại bỏ cây bệnh trước khi thu hoạch.

6. Lưu trữ củ khoai tây
Các cơ sở dùng để lưu trữ củ khoai tây được thiết kế cẩn thận giữ cho khoai tây sống và làm chậm quá trình phân hủy, trong đó bao gồm sự phân hủy tinh bột. Địa điểm lưu trữ có đặc điểm tối, thông thoáng và nhiệt độ lưu trữ lâu dài khoảng 4 °C (39 °F). Đối với lưu trữ ngắn hạn trước khi nấu, nhiệt độ khoảng 7 °C (45 °F) đến 10 °C (50 °F) là phù hợp.
Nhiệt độ dưới 4 °C, xảy ra quá trình biến đổi tinh bột trong đường, làm thay đổi hương vị và chất lượng nấu ăn và làm tăng chất acrylamide khi nấu chín, đặc biệt trong các món ăn chiên. Một nghiên cứu về acrylamide trong thực phẩn giàu tinh bột năm 2002 đã khám phá ra chất này dẫn đến nhiều vấn đề sứ khỏe khi nó được cho là gây ung thư.
Trong điều kiện lưu trữ tối ưu cho thương mại, khoai tây có thể lưu trữ đến 1o-12 tháng. Khi lưu trữ tại các gia đình chỉ được khoảng vài tuần. Nếu củ khoai xuất hiện màu xanh lá cây và nảy mầm, các khu vực này cần được cắt bỏ trước khi sử dụng. Cắt hoặc bóc các khu vực bị xanh vỏ không đủ để loại bỏ độc tố copresent, nó cũng không nên dùng cho động vật.
Khi lưu giữ khoai tây ở các gia đình, nó có thể được bảo quản trong khoảng 1-2 tuần trong túi giấy, nơi khô, mát, nơi ít ánh sáng và thông thoáng. Nếu để khoai tây trong tủ lạnh, chấm đen có thể xuất hiện và xảy ra quá trình biết đổi tinh bột tạo mùi vị khó chịu khi nấu chín. Nếu giữ ở nhiệt độ quá nóng, củ khoai tây sẽ nảy mần và thối. Ngoài ra có một đặc điểm là củ khoai tây hấp thụ mùi hôi bởi quả lê.
7. Độc tính
Khoai tây chứa những hợp chất độc họi được biết đến như glycoalkloids, phổ biến nhất là solanine và chaconine. Solanine cũng được tìm thấy trong một số cây như cây bạch anh độc, cây thuốc lá, cà tím. Độc tố này ảnh hưởng đến hệ thần kinh, gây ra sự yếu đuối và nhầm lẫn.

Chồi non của củ khoai tây

Các chất thuốc bảo vệ thực vật, tích tụ ở phần lá, mầm và quả khoai tây. Nấu ăn trên 170 °C làm giảm chất độc. Nồng độ của glycoalkaloid trong khoai tây hoang dã đủ để gây hại cho cơ thể người, nó gây ra nhức đầu, tiêu chảy. chuột rút và nghiêm trọng hơn khiến người ăn hôn mê dẫn tới tử vong. Tuy vậy ngộ đôc do khoai tây rất ít xảy ra. Ánh sáng làm diệp lục tổng hợp clorophyl, đó là nguyên nhân khiến một số khu vực của củ có thể độc. Một số giống khoai tây chứa nhiều chất độc glycoalkaloid hơn giống khác, các nhà lại tạo giống thông qua thử nghiệm sẽ loại bỏ các cây có tính độc. Họ cố gắng giữ mức solanine dưới 200mg/kg. Tuy nhiên, khi các củ giống thương mại có màu xanh, hàm lượng chất solanine có thể lên tới 1000mg/kg. Trong một củ khoai tây bình thường có 12-20 mg/kg Glycoalkaloid, củ khoai tây có mầm là 250-280 mg/kg, trong củ khoai tây vỏ xanh là 1.500-2.200 mg/kg.
8. Vai trò trong việc cung cấp lương thực Thế giới
Tổ chức FAO thuộc Liên hiệp quốc báo cáo rằng sản lượng khoai tây toàn Thế giới năm 2009 là 330 triệu tấn. Trong đó chỉ hơn 2/3 được ăn trực tiếp bởi con người, còn lại là thức ăn cho động vật và nguyên liệu sản xuất tinh bột. Điều này cho thấy chế độ ăn hàng năm của mỗi công dân toàn cầu trung bình trong thập kỷ đầu thế kỷ 21 là 33 kg khoai tây. Châu Âu là nơi sản xuất khoai tây bình quân đầu người cao nhất Thê giới, trong khi hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất khoai tây lớn nhất Thế giới, riêng sản lượng khoai tây sản xuất ở Trung Quốc chiếm một phần ba sản lượng toàn cầu.

Một cánh đồng trồng khoai tây

Trong năm 2008, một số tổ chức quốc tế nêu bật vai trò của khoai tây đối với lương thực thế giới. Họ trích dẫn tiềm năng của khoai tây là một loại cây trồng ít tốn kém công chăm sóc và thích hợp với nhiều loại khí hậu. Do củ khoai tây nhanh hỏng, chỉ 5% sản lượng được giao dịch mang tầm quốc tế, đóng góp ít vào việc ổn định thị trường lương thực trong cuộc khủng hoảng lương thực năm 2007-2008. Liên hiệp Quốc chính thức tuyên bố năm 2008 là năm quốc tế về khoai tây để nâng cao hình ảnh của khoai tây ở các quốc gia đang phát triển, gọi nó là cây lương thực kho báu.

CÔN TRÙNG HẠI

BỆNH THƯỜNG GẶP

TIN KHÁC

HỖ TRỢ
TRỰC TUYẾN
hỗ trợ

Tiến Nông

Skype: Tiến Nông

BP. CSKH: 02373.789.789

BP. Marketing: 02373.555.678

P. Cung ứng VTTB: 02373.961.279

P. Hành Chính: 02373.729.729

P. Kế toán: 02373.963.369

Máy Nông nghiệp: 02373.936.999

TT. NCPT KHCN: 02373.936.666

FACEBOOK
PAGE
Cuộc thi ảnh - Banner trái
Cuộc thi ảnh - Banner phải