TRUNG LƯỢNG

Lưu huỳnh (Sulfur, S)

Ký hiệu: S
Phương pháp phân tích:
Tên gọi chung của các loại phân cung cấp S cho cây trồng

Lưu huỳnh rất cần thiết trong dinh dưỡng thực vật để thực hiện các chức năng tổng hợp xít min (xystin, xistin, metionin), tổng hợp protein, tạo clorophil, ferrodoxin, glucoxit, hoạt hoá một số men (papainaza, sufun-laza ATP), tổng hợp một số vitamin (biotin, timin, vitamin Bi) và chen-zim A.

Lưu huỳnh tương tác với các nguyên tố dinh dưỡng khác, đảm bảo sự cân bằng nhất định.

Tương tác có ý nghĩa nhất của lưu huỳnh là tương tác với ni tơ. Tỷ lệ S: N cần được đảm bảo với từng loại cây trồng.

Đối với lân, sự tương tác của lưu huỳnh yếu hơn, bón lưu huỳnh kích thích cây thông đồng hoá P, K và các nguyên tố vi lượng Zn, Cu.

Bón lưu huỳnh không những làm tăng năng suất cây trồng mà còn có tác dụng:

- Tăng lượng protein, đặc biệt đối với cây lương thực

- Giảm tỷ lệ N:S, sẽ giảm hàm lượng nitrat trong nông sản.

- Cung cấp thêm hương vị cho lương thực, thực phẩm.

- Tăng hàm quang dầu

- Tăng tính chiu hạn, chống chịu sâu bệnh

Thực vật hấp thu lưu huỳnh dưới dạng ion sun phát (SO42-)

Tổng lượng lưu huỳnh cần thiết phụ thuộc vào từng loại cây và năng suất nông sản. Cây trồng giầu protein có nhu cầu về lưu huỳnh cao hơn. Cây có dầu cần lượng lưu huỳnh nhiều hơn so với cây ngũ cốc, đối với rau quả tỷ lệ N: S = 17: 1, với cỏ làm thức ăn gia súc tỷ lệ 14: 1 là thích hợp.

Ở Ấn độ người ta đã xác định được lượng lưu huỳnh cần thiết để cây trồng đạt năng suất cao nhất. Thí dụ ở bang Punjab ngô sẽ cho năng suất cao nhất khi bón 90kg/ha lưu huỳnh, đốivới lúa là 25 kg/ha.

Ở Madagascar bón thêm 42kg/ha lưu huỳnh làm tăng năng suất mía 53- 77 tấn/ha, hàm lượng đường tăng 8,5- 8,9%.

Đối với lạc được bón thạch cao làm tăng hàm lượng protein 8,4%, metionin 2 1 % và hàm lượng dầu tăng 12%.

Bón lưu huỳnh còn có tác dụng gián tiếp đến ngành chăn nuôi do đồng cỏ được bón bổ sung lưu huỳnh làm tăng năng suất chất xanh cao hơn, hàm lượng protein tăng rõ rệt, đồng thời làm giảm lượng nitrat có hại.

Lượng lưu huỳnh bị mất đi sau mỗi vụ trồng trọt dao động trong khoảng 10 - 50kg/ha. Trừ một số loại cây ngũ cốc, lượng lưu huỳnh mất đi thường tương đương với lượng P mất đi sau mỗi vụ.

Lượng lưu huỳnh cần bổ sung thường phải gấp 2 đến 4 lần lượng mất đi. Nguồn bổ sung lưu huỳnh quan trọng là khí quyển, nước tưới, phân bón, thuốc trừ sâu, diệt nấm.

Nguồn cung cấp lưu huỳnh cho nông nghiệp

1. Khí quyển.

Lưu huỳnh ở dạng hợp chất khí như H2S, SO2 hình thành từ quá trình sống của động thực vật, núi lửa, sản xuất công nghiệp, sinh hoạt... nhờ nước mưa và nước tưới vào đất. Lượng lưu huỳnh này tạo ra hàng năm lên tới 142 triệu tấn. Nhưng lượng phân bổ không đều, thường tập trung ở vùng công nghiệp. Do vậy nguồn S0do khí quyển mang lại không đáng kê. ở Nigiêria thống kê cho thấy lượng lưu huỳnh này chỉ 0,81kg/năm/ha trong khi ở các nước phát triến là 15kg/năm/ha.

2. Nước tưới

Nước tưới một mặt cung cấp sunphat cho đất nhưng lại rửa trôi ion sunphát cùng các ion khác, do đó tuỳ từng nơi và các điều kiện cụ thể mà có các số liệu thống kê riêng.

3. Đất

Lưu huỳnh tồn tại trong nhiều loại khoáng. Hàm lượng lưu huỳnh trong đất có nơi tới 500 phần triệu. Do quá trình phong hoá, lưu huỳnh bị ô xy hoá chuyển thành các sun phát, cũng có trường hợp sun phát bị khử thành lưu huỳnh nguyên tố trong điều kiện yếm khí.

Trong đất lưu huỳnh tồn tại dưới dạng vô cơ và hữu cơ, các hợp chất vô cơ như sunphat hào tan và không hoà tan trong nước, sunphát bị hấp phụ trên bề mặt khoáng sét, các dạng sunphát và S nguyên tố. Lưu huỳnh hữu cơ phải được khoáng hoá thành dạng vô cơ chủ yếu  nhờ vi sinh vật cây trồng mới hấp thụ được.

4. Phân bón và thuốc trừ sâu

Phân bón là nguồn bổ sung lưu huỳnh quan trọng nhất. Thuốc trừ sâu, trừ nấm chứa S hiên nay ít hiệu quả hơn những loại thuốc  mới nên nguồn bổ sung này ít có ý nghĩa.

5. Một số sản phẩm phân bón cung cấp lưu huỳnh cho đất và cây trồng

 

N

P2O5

K2O

S

Chất khác

Alumin sunfat

0

0

0

14,4

11,4 (Al)

Amophos

11

48

0

4,5

 

Dung dịch amon - lưu huỳnh

74

0

0

10

 

Amon bisunfit

14,1

0

0

32,3

 

Dung dịch amon bisunfit

8,5

0

0

5

 

Amon photphat sunfat (amonphos B)

16,5

20

0

15

 

Dung dịch amon polisunfit

20

20

0

40

 

Amon sunfat

21

0

0

24,2

 

Amon sunfat nitrat

26

0

0

12,1

 

Amon thiosunfat

12

0

0

26

 

Thomas sơlac

0

15,6

 

3

 

Coban sunfat

 

 

 

11,4

21 (Co)

Đồng sunfat

 

 

 

12,8

25,5 (Cu)

Sắt amonsunfat

6

 

 

16

16 (Fe)

Sắt sunfat

 

 

 

18,8

32,8 (Fe)

Thạch cao

 

 

 

18,6

32,6 (CaO)

Kainit

 

 

19

12,9

9,7 (MgO)

Langbeinit

 

 

21,8

22,8

 

Lưu huỳnh vôi

 

 

 

57

43 (CaO)

Magie sunfat

 

 

 

13

9,8 (Mg)

Kali sunfat

 

 

50

17,6

 

Mangan sunfat

 

 

 

21,2

36,4 (Mn)

Pyrit

 

 

 

53,5

 

Natri bisunfat

 

 

 

26,5

 

Kali magie sunfat

 

 

26

18,3

 

Sunfua dioxyt

 

 

 

50

 

Urea - thạch cao

17,3

 

 

14,8

 

Urea - lưu huỳnh

40

 

 

10

 

Kẽm sunfat

 

 

 

17,8

36,4 (Zn)

3. Số lượng lưu huỳnh lấy đi trong sản phẩm thu hoạch thay đổi tùy theo loại cây và năng suất từ 20-80kg S/ha. Với năng suất 3 tấn thóc 1ha số lượng S lấy đi trong sản phẩm thu hoạch (hạt) chỉ 2,46kgS/ha. Nếu năng suất đạt 8 tấn/ha/vụ số lượng lấy đi là 5,56, nếu tính cả rơm rạ số lượng tương ứng sẽ là: với năng suất 3 tấn/ha 5.07kgS/ha, với năng suất 8 tấn/ha 13,52kgS/ha. Như vậy nếu vùi trở lại toàn bộ chất hữu cơ, số lượng lưu huỳnh cần bón để bù lại số lưu huỳnh bị lấy đi, giảm hơn 1/2.

Tình hình sản xuất gần đây có những thay đổi sau đây làm cho nhu cầu bón lưu huỳnh ngày càng trở thành cấp thiết hơn:

- Số vụ trồng và năng suất trên đơn vị diện tích tăng lên.

Tổng sinh khối trên đơn vị diện tích tăng lên số lượng S bị lấy đi cũng tăng lên.

- Số lượng phân chuồng được sử dụng giảm xuống do lao động đắt. Tất cả S và N trong xác bã thực vật mất đi nếu nông dân vẫn còn sử dụng tập quá đốt nương làm rẫy hoặc đốt đồng sau khi thu hoạch để dễ làm đất và phòng sâu bệnh hại.

- Nông dân sử dụng nhiều các loại phân đậm đặc như DAP, urea thay thế các loại phân chứa lưu huỳnh như amon sunfat urea.

- Số lượng S mất đi do rửa trôi hàng năm khá lớn. Mỗi năm số lượng mất đi do rửa trôi ước tính 20-40 kgS/ha/năm, ở vùng mưa nhiều có thể đến 100kgS/ha/năm.

Số lượng này tăng lên khi trồng nhiều vụ, kể cả vụ mưa.

Gần đây hiện tượng thiếu lưu huỳnh đã xuất hiện ở nhiều nơi. Ở một số nông trường và nông dân trồng cà phê ở Ban Mê Thuột xuất hiện hiện tượng cà phê vàng lá cây lùn thấp, cành ngắn, đốt ngắn nông dân gọi là hiện tượng rù của cà phê. HIện tượng này được xác định nguyên nhân là do thiếu S, phổ biến ở các nông trường ít bón phân hữu cơ những nơi dùng nhiều DAP thay thế supe lân. Hiện tượng này cũng bắt gặp ở những nương cà phê lâu năm và những nương mới trồng trên đất đồi sau nhiều năm đốt nương làm rẫy đã thoái hóa. Hiện tượng vàng lá của một số đồi chè, các vùng trồng cam quýt lâu năm cũng bị nghi thiếu S là một trong các nguyên nhân. Nhiều thí nghiệm trên đất cát ven biển, đất bạc màu: lạc, đậu tương, thuốc lá, ngô đã làm tăng năng suất rõ. Một số thí nghiệm đầu tiên đối với mía quanh vùng nhà máy đường Lam Sơn, Thanh Hóa cho thấy năng suất và hàm lượng đường của mía bón S cũng tăng khá rõ.

4. Các giải pháp để đảm bảo nhu cầu S cho cây trồng.

Điều đầu tiên cần làm rõ là bón phân lưu huỳnh chỉ có thể làm tăng năng suất khi đất không cung cấp đủ, và bón S không làm tăng năng suất và cũng có thể làm giảm năng suất khi đất quá thừa. Cung cấp S cho ruộng lúa cần đề phòng độc hại gây ra do H2S. Giải pháp bón thêm phân lưu huỳnh chỉ có ích trong một số trường hợp đặc biệt. Duy trì hàm lượng lưu huỳnh thích hợp trong đất bằng chế độ canh tác và bón phân hợp lý kinh tế hơn nhiều. Các biện pháp cần được chú ý là:

1. Trừ trường hợp bất đắc dĩ cần diệt nguồn lây lan khi có dịch bệnh, còn lại nên bằng mọi cách tránh đốt nương làm rẫy và đốt đồng sau thu hoạch. Nên vùi hết hữu cơ vào đất.

2. Đẩy mạnh sử dụng phân hữu cơ. Trong than bùn thấp, sú vẹt có nhiều S. Sử dụng than bùn ven biển cho đất đồi ngoài các tác dụng khác còn là nguồn cung cấp lưu huỳnh tốt.

3. Xem trọng bố trí cây trồng hợp lý. Ion sunfat bị rửa trôi được giữ lại ở tầng B và tầng C. Các loại cây phân xanh có tầng rễ ăn sâu xuống đến các tầng đất này có tác dụng bổ sung S cho cây trồng chính.

Cây họ hòa thảo hút mạnh lưu huỳnh hơn cây họ đậu, cải, cà và hành tỏi. Trong hệ thống luân canh hoa màu lúa, các nguồn cung cấp lưu huỳnh kể cả phân hữu cơ nên ưu tiền cho vụ trồng hoa màu.

4. Sử dụng phối hợp thích đáng giữa phân đậm đặc urea, DAP, TSP, với các nguồn phân hóa học có chứa lưu huỳnh, supe lân, amon sunfat, kali sunfat để có một công thức sử dụng phân bón cân đối và kinh tế.

5. Trong một số trường hợp thiếu nghiêm trọng có thể dùng các nguồn sau đây:

- Lưu huỳnh nguyên tố. Sau khi bón vào đất lưu huỳnh nguyên tốt có thể oxyt hóa chuyển thành SO2 và thành H2SO4. H2SO4 kết hợp với các cation khác trong đất thành muối sunfat. Sự chuyển thành sunfat của S phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm và hoạt động cảu vi sinh vật. Độ mịn của hạt lưu huỳnh ảnh hưởng đến tốc độ chuyển hóa. Người ta cho rằng trộn lẫn hai cỡ hạt (60mesh và 80-100mesh) sẽ điều hòa tốc độ chuyển hóa (mesh: đơn vị đo cỡ hạt tính bằng số lỗ trên cm2 chưa được 100 lỗ). Dùng S nguyên tố lâu ngày có thể làm chua đất. Bón 1kgS cần bón 3kg CaCO3 để khử chua.

- Than bùn sú vẹt.

- Các loại muối có chứa lưu huỳnh như thạch cao, sắt, nhôm amon sunfat, vôi lưu huỳnh. Các loại muốn sunfat không làm thay đổi độ chua đáng kể.

- Các nguồn phân có chứa lưu huỳnh liệt kê trên bảng trên là nguồn được sử dụng ở Mỹ và nhiều nước phát triển. Hiệu quả trên đơn vị lưu huỳnh bón cho cây chưa được nghiên cứu nhiều như các loại phân N, P, K và thường được xem như nhau. Sự lựa chọn phụ thuộc vào giá cả.

Các kết quả nghiên cứu so sánh S nguyên tố so với sunfat cho thấy rằng nếu S nguyên tố được nghiền miền thì hiểu quả cũng tương đương. Các nhà sản xuất phân đa nguyên tố do lý do trên thường chọn giải pháp trộn bột lưu huỳnh với các loại phân như urea, DAP, lân nung chảy để có loại phân đa nguyên tố có thành phần như ý muốn. Để giảm bớt rửa trôi và tăng cường lý tính người ta có thể trộn 90% bột S với 10% bentonit. Với tỷ lệ này bột S ít bay bụi và làm cho lưu huỳnh sau khi oxy hóa thành sunfat ít bị rửa trôi. Để sản xuất loại phân này người ta trộn bentoniter vào S được được nấu chảy.

Dung dịch SO2 được dùng có hiệu quả cho lúa mỳ ở Mỹ, tuy nhiên sử dụng rộng rãi có khó khăn vì bảo quản SO2 hòa loãng khó và đắt tiền.

Urea bọc lưu huỳnh được chú ý nhiều vì cả hai mặt tăng hiệu quả của urea do giảm bớt độ hòa tan và hiệu quả của lưu huỳnh.

Đối với chúng ta trước mắt chưa phải là vấn đề cung cấp các loại phân bón chứa lưu huỳnh mà là vấn đề đảm bảo có tỷ lệ khoảng 20% lượng N sử dụng ở dạng amon sunfat và một tỷ lệ ít nhất 40 - 50% supe lân trong các loại phân lân để nông dân có thể dễ dàng chọn các loại phân hóa học thích hợp tạo ra công thức sử dụng phân bón phối hợp cân đối.

TIN KHÁC

HỖ TRỢ
TRỰC TUYẾN
hỗ trợ

Tiến Nông

Skype: Tiến Nông

BP. CSKH: 02373.789.789

BP. Marketing: 02373.555.678

P. Cung ứng VTTB: 02373.961.279

P. Hành Chính: 02373.729.729

P. Kế toán: 02373.963.369

Máy Nông nghiệp: 02373.936.999

TT. NCPT KHCN: 02373.936.666

FACEBOOK
PAGE